Nghiệp vụ TGPL Trao đổi thảo luận

Một số vấn đề về đề xuất, kiến nghị và trả lời đề xuất, kiến nghị của địa phương trong hoạt động trợ giúp pháp lý (2007 - 2010)

Thứ ba, 13/09/2011 - 12:00 AM

Trong quá trình tiếp nhận và trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương, Cục Trợ giúp pháp lý nhận thấy, do chưa nghiên cứu kỹ, chưa nắm bắt đầy đủ các văn bản pháp luật và các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ, của Cục nên một số địa phương nêu những đề xuất, kiến nghị đã được pháp luật quy định hoặc đã được hướng dẫn.

 

1. Thực trạng đề xuất, kiến nghị và trả lời đề xuất, kiến nghị của địa phương trong hoạt động trợ giúp pháp lý giai đoạn 2007 - 2010


Cục Trợ giúp pháp lý là đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về trợ giúp pháp lý trong phạm vi cả nước. Bên cạnh việc chủ động, tích cực xây dựng và hoàn thiện thể chế, bồi dưỡng nghiệp vụ, ... Cục Trợ giúp pháp lý chú trọng hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ, trả lời đề xuất, kiến nghị nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong công tác trợ giúp pháp lý của địa phương, góp phần đưa Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành đi vào thực tiễn.


1.1. Nguồn tiếp nhận đề xuất, kiến nghị


Các đề xuất, kiến nghị về công tác trợ giúp pháp lý của địa phương được Cục Trợ giúp pháp lý tiếp nhận thông qua các nguồn sau đây:


- Báo cáo định kỳ (hàng tháng, quý, 6 tháng, năm) của các Trung tâm trợ giúp pháp lý;


- Báo cáo của Sở Tư pháp gửi Bộ Tư pháp hoặc đề xuất, kiến nghị tại các hội nghị của ngành Tư pháp;


- Công văn đề nghị giải đáp các vướng mắc cụ thể khi thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý và giải quyết vụ việc;


- Báo cáo các chuyến đi kiểm tra công tác trợ giúp pháp lý tại địa phương;


- Đề xuất, kiến nghị trực tiếp tại các đợt tập huấn, hội thảo, toạ đàm.


1.2. Phương thức trả lời đề xuất, kiến nghị


Tuỳ thuộc vào tính chất, nội dung và hình thức tiếp nhận các đề xuất, kiến nghị của địa phương, Cục Trợ giúp pháp lý có phương thức trả lời phù hợp. Cụ thể:


- Giải đáp, hướng dẫn trực tiếp: Việc giải đáp trực tiếp được thực hiện tại các đợt tập huấn, hội thảo, toạ đàm, hội nghị hoặc thông qua các đoàn công tác.


- Giải đáp, hướng dẫn bằng văn bản: Việc giải đáp, hướng dẫn bằng văn bản của Cục có thể được thực hiện đối với từng địa phương có đề xuất, kiến nghị. Trong trường hợp khi nghiên cứu và nhận thấy những đề xuất, kiến nghị đó là vấn đề của nhiều địa phương thì Cục có văn bản hướng dẫn chung. Bên cạnh đó, định kỳ 6 tháng, 1 năm, Cục cũng có văn bản trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương về trợ giúp pháp lý gửi Văn phòng Bộ Tư pháp để tổng hợp gửi các cơ quan có kiến nghị.


- Bên cạnh đó, đối với những đề xuất, kiến nghị liên quan đến xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách hoặc những vấn đề Cục nhận thấy cần phải được quy phạm hóa, thể hiện bằng chính sách, Cục tích cực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các chính sách có liên quan.


1.3. Các đề xuất, kiến nghị và kết quả trả lời các đề xuất, kiến nghị


Từ năm 2007 đến năm 2010, Cục Trợ giúp pháp lý đã tiếp nhận và soạn thảo hơn 600 công văn giải đáp vướng mắc, trả lời đề xuất, kiến nghị, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn giải quyết các vụ việc phức tạp của các địa phương trong hoạt động trợ giúp pháp lý:


a - Năm 2007 là năm đầu tiên triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ nên các khó khăn, vướng mắc, đề xuất, kiến nghị của các địa phương tập trung chủ yếu vào các vấn đề: xây dựng và ban hành các văn bản (Chỉ thị, Kế hoạch, Đề án, Quy chế...) của địa phương để triển khai thi hành Luật; rà soát, củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ của Trung tâm trợ giúp pháp lý và Chi nhánh của Trung tâm, điều kiện tham dự lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý... Để kịp thời nắm bắt và giải đáp, hướng dẫn cho địa phương, Cục Trợ giúp pháp lý tổ chức nhiều đoàn đi công tác xuống cơ sở để tìm hiểu, nghiên cứu và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc của địa phương, tổ chức tọa đàm, hội thảo; tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, đây là 02 văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng rất nhiều quy định mới, nhiều địa phương còn có những cách hiểu chưa thống nhất hoặc gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nên số lượng các yêu cầu giải đáp trong năm rất lớn (hơn 100 công văn hướng dẫn).


b - Năm 2008, Cục đã ban hành hoặc trình lãnh đạo Bộ ký ban hành 87 công văn chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Nội dung tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý; kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh; bổ nhiệm, cấp thẻ và triển khai hoạt động của Trợ giúp viên pháp lý; phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập qua hơn 01 năm triển khai Luật trợ giúp pháp lý cũng như trong thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý ở địa phương để hướng dẫn các địa phương áp dụng thống nhất...


c) Năm 2009, Cục đã triển khai nhiều hoạt động nhằm kịp thời nắm bắt tình hình thực tiễn, các vướng mắc phát sinh và đã ban hành gần 300 công văn hướng dẫn, trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan, giải đáp trên 60 đề xuất, khó khăn, vướng mắc của các Trung tâm trợ giúp pháp lý tại Hội nghị tập huấn nghiệp vụ toàn quốc. Các đề xuất, kiến nghị tập trung chủ yếu vào các vấn đề: phối hợp về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng theo Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC (Thông tư liên tịch số 10); tổ chức triển khai quy hoạch mạng lưới Trung tâm và Chi nhánh; đẩy mạnh trợ giúp pháp lý tại cơ sở (trợ giúp pháp lý lưu động, thành lập và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật...); chế độ phụ cấp, tiêu chuẩn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý và các chức danh lãnh đạo của Trung tâm; trợ giúp pháp lý cho các đối tượng đặc thù; thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và hướng dẫn giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý cho địa phương v.v...


d - Năm 2010, Cục đã ban hành trên 200 công văn hướng dẫn nghiệp vụ hoặc trả lời các đề xuất, kiến nghị của các địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý, tập trung vào các vấn đề: tiêu chuẩn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo Điều ước quốc tế, trợ giúp pháp lý cho người chưa thành niên, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý, việc cử cộng tác viên không phải là Luật sư và chuyên viên tham gia một số hoạt động trợ giúp pháp lý; điều kiện tham dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý của cán bộ nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý..., hướng dẫn giải quyết 27 vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể cho địa phương.


Như vậy, trong thời gian qua, các đề xuất, kiến nghị của địa phương về công tác trợ giúp pháp lý bao gồm toàn diện các vấn đề như: xây dựng và hoàn thiện thể chế; củng cố tổ chức bộ máy; điều kiện, tiêu chuẩn, chố độ chính sách đối với cán bộ, người thực hiện trợ giúp pháp lý; phát triển trợ giúp pháp lý tại cơ sở; chính sách trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo; phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng... Việc nắm bắt, thu thập và trả lời đề xuất, kiến nghị và hướng dẫn nghiệp vụ của địa phương đã được Cục Trợ giúp pháp lý thực hiện nghiêm túc; nghiên cứu kỹ lưỡng; trả lời đầy đủ và kịp thời; phương thức trả lời, giải đáp phù hợp. Cục Trợ giúp pháp lý đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp xây dựng và ban hành quy trình hướng dẫn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2008, hiện nay đang vận hành thử nghiệm quy trình này. Vì vậy, đã kịp thời giải quyết, tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc về trợ giúp pháp lý của các địa phương, góp phần tích cực tổ chức thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, nhanh chóng đưa Luật đi vào cuộc sống, bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người nghèo và đối tượng chính sách.


1.4. Những khó khăn, vướng mắc


Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đề xuất, kiến nghị và trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương trong công tác trợ giúp pháp lý còn gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:


a) Một số địa phương nghiên cứu các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chưa đầy đủ


Trong quá trình tiếp nhận và trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương, Cục Trợ giúp pháp lý nhận thấy, do chưa nghiên cứu kỹ, chưa nắm bắt đầy đủ các văn bản pháp luật và các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ, của Cục nên một số địa phương nêu những đề xuất, kiến nghị đã được pháp luật quy định hoặc đã được hướng dẫn. Vì vậy, việc trả lời đề xuất, kiến nghị không cần thiết, gây mất thời gian cho cơ quan quản lý. Ví dụ: về hình thức trợ giúp pháp lý, quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý (đã được quy định cụ thể trong Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số 07/2007/NĐ-CP); nội dung phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (đã có trong Thông tư liên tịch số 10/TTLT); mô hình tổ chức và sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý (quy định trong Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ TGPL ban hành kèm theo Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)...


b) Khó khăn, vướng mắc của nhiều Trung tâm trợ giúp pháp lý tập trung về biên chế, cán bộ và kinh phí hoạt động


- Qua tổng hợp các đề xuất, kiến nghị của các địa phương cho thấy một trong những khó khăn lớn của các Trung tâm trợ giúp pháp lý hiện nay là hạn chế và không ổn định về biên chế, cán bộ, thiếu kinh phí hoạt động.


- Công tác quy hoạch đội ngũ lãnh đạo Trung tâm, Trợ giúp viên pháp lý chưa được chú trọng. Các địa phương thiếu nguồn tuyển dụng và nguồn tại chỗ để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý. Vì vậy, mặc dù hàng năm Bộ Tư pháp đều tích cực chủ động mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý nhưng địa phương không có người đủ tiêu chuẩn để cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ.


- Chính sách tuyển dụng, sử dụng, điều động, luân chuyển cán bộ còn chưa hợp lý, chưa tính đến yêu cầu công việc và nhiệm vụ của tổ chức nên chưa có sự ưu tiên thích đáng cho công tác cán bộ, đặc biệt là số Trợ giúp viên pháp lý đã được đào tạo, bồi dưỡng, có kinh nghiệm của Trung tâm còn ít nhưng lại phải chia sẻ nguồn nhân lực này cho các đơn vị khác thuộc Sở Tư pháp


- Kinh phí hoạt động của các Trung tâm trợ giúp pháp lý chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Kinh phí cấp cho Trung tâm vẫn theo định mức biên chế sự nghiệp như các đơn vị sự nghiệp có thu khác mà chưa tính đến đặc thù, tính chất miễn phí của hoạt động trợ giúp pháp lý. Nguồn kinh phí của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam còn hạn chế, chưa bảo đảm kinh phí để hỗ trợ cho các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Bên cạnh đó, kinh phí cấp cho hoạt động phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng còn hạn chế, có nơi chưa được cấp kinh phí nên nhiều hoạt động không triển khai được, làm hạn chế hiệu quả phối hợp.


- Trụ sở làm việc, phòng tiếp công dân của một số Trung tâm còn chật hẹp, chưa thuận tiện cho dân; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc thiết yếu còn thiếu thốn.


- Chế độ đãi ngộ đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý chưa phù hợp: Trợ giúp pháp lý là một nghề nghiệp đặc thù, là dịch vụ công của Nhà nước, đòi hỏi người cung cấp dịch vụ có chuyên môn nghiệp vụ cao. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành (Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT-BTC-BTP) chế độ thù lao cho công tác này còn rất thấp so với mặt bằng dịch vụ pháp lý có thu trên thị trường. Vì vậy đã không khuyến khích được sự cộng tác của những người có đủ điều kiện làm cộng tác viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý giỏi tham gia cộng tác.


2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đề xuất, kiến nghị và trả lời các đề xuất, kiến nghị của địa phương


2.1. Về phía địa phương:


Thứ nhất, các địa phương cần nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý nói riêng cũng như các văn bản có liên quan của ngành nói chung, không trả lời các vấn đề đã được quy định, hướng dẫn.


Thứ hai, các địa phương cần chủ động, tích cực phát huy nội lực tự tìm ra những giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc ngay tại địa phương hoặc có thể học tập, trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trước khi có văn bản đề xuất, kiến nghị với cơ quan quản lý ở Trung ương, bởi lẽ, không phải đối với vấn đề gì, cơ quan quản lý ở Trung ương cũng có thể có giải pháp tối ưu và thuận lợi cho tất cả các địa phương. Ví dụ: Đối với các khó khăn, vướng mắc về biên chế, cán bộ, các Trung tâm trợ giúp pháp lý cần chủ động, tích cực tham mưu cho Sở Tư pháp báo cáo, giải trình với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc làm việc, trao đổi trực tiếp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính để có giải pháp cụ thể.


Thứ ba, hạn chế việc luân chuyển cán bộ không cần thiết; việc Trợ giúp viên pháp lý đã được tập huấn, quen việc, có kỹ năng bị luân chuyển sang hoạt động khác vừa gây ảnh hưởng tới chất lượng vụ việc, vừa lãng phí cho công tác đào tạo


2.2. Về phía Bộ:


Thứ nhất, đề nghị Lãnh đạo quan tâm hơn nữa trong việc dành thời gian thảo luận, kiến nghị với các cơ quan Trung ương và địa phương về trợ giúp pháp lý, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, sử dụng cán bộ, tăng chế độ đãi ngộ để Trợ giúp viên pháp lý yên tâm công tác, có chế độ chính sách khi nghỉ hưu (được chuyển sang làm luật sư ngay mà không phải tập sự, ...).


Thứ hai, hàng năm cần rà soát, tập hợp những vấn đề lớn trong các đề xuất, kiến nghị của địa phương để tổng kết thành những hướng dẫn chung của ngành, tạo nguồn tra cứu, tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật.


Thứ ba, trên cơ sở tổng kết những đề xuất, kiến nghị của địa phương, cơ quan quản lý nhà nước cần phải nghiên cứu và có giải pháp thiết thực, kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà không chỉ dừng lại ở việc trả lời, hướng dẫn, chẳng hạn: lãnh đạo Bộ hoặc đơn vị chủ quản sắp xếp lịch làm việc trực tiếp với lãnh đạo tỉnh hoặc lãnh đạo các Sở, ban, ngành ở địa phương để tác động, trao đổi cùng với họ tháo gỡ khó khăn cho địa phương hoặc đối với những vấn đề lớn cần phải được thể chế hóa bằng chính sách, pháp luật thì các cơ quan quản lý có thẩm quyền cần nghiêm túc nghiên cứu, ban hành hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật.


Thứ tư, cần áp dụng thống nhất và quy chuẩn việc đề xuất, kiến nghị và trả lời đề xuất, kiến nghị của địa phương theo quy trình áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO./.


Phan hà


 

Người được TGPL

Thủ tục TGPL

Hỏi đáp pháp luật

Gửi tin bài

Quảng cáo phai 3

Quảng cáo phải 1

Quảng cáo phải 2