Nghiệp vụ TGPL Hướng dẫn nghiệp vụ

Một số kỹ năng trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Thứ sáu, 09/12/2011 - 12:00 AM

Để giúp đỡ và tháo gỡ những vướng mắc pháp luật cho đối tượng là người dân tộc thiểu số, các Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viênTGPL đã thực hiện nhiều kỹ năng nghề nghiệp, trong đó phải kể đến các kỹ năng tư vấn, kỹ năng bào chữa, kỹ năng đại diện, kỹ năng hòa giải…

Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, bao gồm: dân tộc Thái, H’Mông, dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Dáy, La Hủ, Lào, Lợ, Hao, Kháng, Tày, Cống, Lô Lô, Phù Lá...với tổng dân số trên 491.046 người, chủ yếu là dân tộc Thái (40,4%), dân tộc H’Mông (28,8%), dân tộc Khơ Mú (3,2%), còn lại là các dân tộc khác; có 04 dân tộc ít người đặc biệt khó khăn (La Hủ, Cống, Si La, Mảng. Trong 10 năm qua tổ chức thực hiện TGPL và các tổ chức tham gia thực hiện TGPL trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã tiến hành TGPL 8.806 vụ việc; trong đó lĩnh vực pháp luật Dân sự 1.842 vụ việc, lĩnh vực pháp luật Hôn nhân và Gia đình 1.130 vụ việc, lĩnh vực pháp luật Hình sự 1.529 vụ việc, lĩnh vực pháp luật Hành chính Kiếu nại tố cáo 553 vụ việc, lĩnh vực pháp luật Lao động và việc làm 22 vụ việc, lĩnh vực pháp luật Đất đai và nhà ở 1.393 vụ việc và các lĩnh vực pháp luật khác 2.337 vụ việc. Để giúp đỡ và tháo gỡ những vướng mắc pháp luật cho đối tượng là người dân tộc thiểu số, các Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viênTGPL đã thực hiện nhiều kỹ năng nghề nghiệp, trong đó phải kể đến các kỹ năng tư vấn, kỹ năng bào chữa, kỹ năng đại diện, kỹ năng hòa giải…


1. Kỹ năng tư vấn pháp luật


Theo quy định tại Điều 38 Luật TGPL thì tư vấn pháp luật được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản; tư vấn trực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua phương tiện thông tin khác; thông qua trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và các phương thức khác.


a) Tư vấn pháp luật thông qua TGPL lưu động


Tính từ năm 1999 đến năm 2009 các Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viên Trung tâm TGPL đã thực hiện tư vấn 7.624 vụ việc trong tổng số 8.806 vụ việc đã thực hiện TGPL chiếm 86,56% tổng số vụ việc, cho gần 90% số đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động mà chủ yếu là tư vấn pháp luật đã tạo điều kiện để người dân trực tiếp đối thoại, giải đáp những vướng mắc về pháp luật mà cuộc sống đời thường họ thường gặp và là hoạt động được xem là hiệu quả đối với hoạt động TGPL ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để hoạt động TGPL lưu động có hiệu quả Trung tâm TGPL nàh nước, Chi nhánh của Trung tâm cần làm tốt một số công việc sau:


* Khảo sát nhu cầu TGPL: Nhằm chuẩn bị tốt cho đợt TGPL lưu động, trước khi tổ chức TGPL lưu động Đoàn công tác cần tiến hành khảo sát nhu cầu TGPL nơi Đoàn đến công tác. Khảo sát cần nắm được điều kiện giao thông, tình hình kinh tế xã hội – an ninh trật tự; đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán, những vấn đề vướng mắc, bức xúc của người dân; các vụ việc vướng mắc pháp luật đang tồn động tại cơ sở; chế độ chính sách đã và đang được triển khai người dân có những vướng mắc gi? Lĩnh vực pháp luật mà người dân quan tâm?


* Xây dựng Kế hoạch TGPL lưu động: Trên cơ sở kết quả khảo sát, Đoàn công tác xây dựng Kế hoạch xác định rõ mục đích yêu cầu chuyến công tác; thời gian, địa điểm, thành phần Đoàn. Lưu ý trong thành phần Đoàn cần có cán bộ có kiến thức pháp luật chuyên sâu từng lĩnh vực pháp luật và đặc biệt trong thành phần Đoàn phải có ít nhất 01 người có kiến thức xã hội, am hiểu phong tục, tập quán của người dân tộc nơi Đoàn đến công tác, hoặc có ít nhất 01 cán bộ là người dân tộc thiểu số cùng với dân tộc nơi Đoàn đến công tác, cán bộ đó có thể là người làm việc tại Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm, Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc ít nhất là cán bộ cấp xã hoặc Cộng tác viên TGPL. Về thời gian tổ chức lưu động chủ yếu là vào buổi tối và đã được báo trước ít nhất 01 ngày để người dân đi làm nương và người dân đang ở trên nương kịp về tham gia cuộc họp. Địa điểm thường được được tổ chức tại nhà văn hóa cộng đồng, nhà trưởng bản hay nhà dân ở vị trí trung tâm của bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc đi lại của người dân.


* Thực hiện TGPL lưu động: Vấn đề mấu chốt của Đoàn công tác là được người TGPL nói ra và cung cấp được những thông tin vụ việc mà họ yêu cầu, bởi vì người dân tộc thiểu số có thói quen sống khép kín, mọi công việc hàng ngày diễn ra được giải quyết chủ yếu bằng phong tục, tập quán, thói quen và hình thức giải quyết chủ yếu bằng miệng không bằng văn bản giấy tờ; người giải quyết thường là trưởng dòng họ, già làng, người có uy tín. Rất ít vụ việc giải quyết thông qua chính quyền thôn, bản do vậy họ không có thói quen gải quyết vụ việc thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này cho thấy Đoàn công tác phải hòa nhập với cuộc sống của họ giúp đỡ họ về mặt tâm lý trước khi giúp đỡ họ về pháp luật, chiếm được tình cảm, niềm tin của họ và chỉ có như vậy những vướng mắc pháp luật mới được họ bày tỏ và yêu cầu giúp đỡ.


Thực tiễn cho thấy hoạt động trong đời sống hàng ngày của người dân tộc thiểu số chủ yếu dựa trên luật tục, không lấy pháp luật làm chuẩn mực để điều chỉnh hành vi do vậy các đợt công tác TGPL lưu động cần có cán bộ có trách nhiệm, có kiến thức xã hội, có kinh nghiệm cuộc sống và am hiểu phong tục tập quán của người dân tộc.


10 năm qua Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Điện Biên đã tổ chức 167 đợt TGPL lưu động tại 220 lượt xã của 116 xã thuộc 12 huyện, thị xã, thành phố. Kết quả thu được là đáng khích lệ, nhưng điều đáng mừng hơn là thông qua các đợt TGPL lưu động đồng bào dân tộc thiểu số đã đặt niềm tin vào các tổ chức thực hiện TGPL, tại các đợt TGPL lưu động bà con đã đề nghị Đoàn công tác thực hiện hàng trăm vụ hòa giải và gửi hàng trăm đơn đề nghị TGPL cho người thân thích là người tạm giữ, bị can, bị cáo.


Tư vấn pháp luật trong TGPL lưu động cũng như tư vấn pháp luật tại trụ sở; tại Câu lạc bộ TGPL; qua điện thoại, thư tín, fax, việc tư vấn được diễn ra dưới 01 trong 02 hình thức hoặc là bằng miệng hoặc bằng văn.
Đối với kỹ năng tư vấn bằng miệng cần tập trung vào các nội dung sau:


Thứ nhất, nghe người yêu cầu TGPL trình bày: đây là giai đoạn đầu tiên trong quá trình tư vấn, vì vậy người tư vấn muốn nắm bắt được thông tin về vụ việc thì phải biết lắng nghe lời trình bày của người được tư vấn. Bởi vì, hơn ai hết họ chính là người trong cuộc, đang tham gia vào diễn biến sự việc và là một bên của tranh chấp mâu thuẫn nên thường họ nắm bắt đầy đủ những thông tin có liên quan đến vụ việc. Lắng nghe toàn bộ nội dung vụ việc và thông tin liên quan đến vụ việc đồng thời ghi chép nội dung chính và luôn xác định đây là tài liệu quan trọng bởi vì người dân tộc thiểu số thường thật thà phản ánh đúng nội dung sự việc và ít khi họ có tài liệu kèm theo. Trong quá trình nghe cần quan sát thái độ của người cung cấp thông tin về cử chỉ, hành vi, khích lệ đẻ họ tự tin trình bày nội dung vụ việc. Không hỏi dồn hỏi gấp hoặc ngắt lời họ vì như vậy dễ làm họ quên nội dung đang trình bày hoặc họ sợ hãy, thậm trí nếu họ tự ái thì họ sẽ không còn yêu cầu TGPL nữa;


Thứ hai, đề nghị người tư vấn cung cấp thông tin tài liệu, chứng cứ liên quan đến vấn đề trình bày. Đó là những thông tin, tài liệu, giấy tờ liên quan đến vụ việc người yêu cầu tư vấn trình bày mà họ đang nắm giữ. Đối với người dân tộc thiểu số không có thói quen lưu giữ các giấy tờ nên việc cung cấp các thông tin qua giấy tờ là khó, vì vậy cần kiên trì khơi gợi lại trí nhứ cho họ, lắng nghe họ trình bày. Ngoài họ ra có ai có loại giấy tờ này? ai biết? Đồng thời yêu cầu họ cung cấp cả những thông tin mà theo họ là không có lợi cho họ. Điều này giúp cho người người TGPL có cái nhìn toàn cảnh và hình dung ra toàn bộ nội dung vụ việc. Có nhiều trường hợp người tư vấn giấu thông tin do nhận thức về pháp luật hạn chế, họ cho là không có lợi cho họ nhưng thực ra đưa ra xem xét, đánh giá thì lại có lợi cho người có đơn yêu cầu được TGPL;


Thứ ba, tra cứu tài liệu: tra cứu được thực hiện ngay trước mặt người được TGPL, cho họ thấy rằng công việc của họ đang được giải quyết theo quy định của pháp luật chứ không phải giải quyết theo thỏa thuận, trao đổi, cam kết, thống nhất như cách giải quyết thường làm ở thôn, bản. Các quy định của pháp luật được tra cứu là cơ sở pháp lý để khẳng định cho việc nhận thức và tư vấn của trợ giúp viên pháp lý là đúng, khẳng định tính đúng đắn, hợp pháp của giải pháp mà người tư vấn đưa ra;


Thứ tư, định hướng cho người yêu cầu tư vấn: Nhằm giúp người được TGPL vấn đề từ đó họ tự lựa chọn phương thức tốt nhất cho việc bảo vệ quyền lợi của mình.


Trường hợp vụ việc yêu cầu được tư vấn phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, nhiều cơ quan, Ban, ngành và nhiều địa phương; hoặc người được TGPL yêu cầu được tư vấn bằng văn bản để họ lấy đó làm cơ sở, niềm tin để sử dụng vào mục đích nào đó; hoặc họ muốn nắm được đầy đủ toàn bộ nội dung tư vấn để mang về sử dụng, những trường hợp này người thực hiện TGPL thực hiện kỹ năng tư vấn bằng văn bản. Tập trung vào các kỹ năng:


Thứ nhất, nghiên cứu vụ việc của người yêu cầu TGPL: Là việc Trợ giúp viên pháp lý căn cứ vào đơn yêu cầu TGPL và những thông tin ghi nhận được để nghiên cứ xem xét toàn bộ các nội dung thông tin chứa đựng trong hồ sơ đó, từ đó người thực hiện TGPL định hướng cho cách giải quyết vụ việc. Nếu nhận thấy thông tin mà người yêu cầu TGPL cung cấp chưa đầy đủ thì người yêu cầu TGPL đề nghị cung cấp thêm. Lưu ý đa số các vụ việc người dân tộc thiểu số đề nghị TGPL họ không biết cách cung cấp thông tin hoặc không có thông tin cung cấp do vậy người thực hiện TGPL cần hướng dẫn cụ thể cách cung cấp thông tin;


Thứ hai, trao đổi với người yêu cầu TGPL: Trường hợp đơn yêu cầu TGPL và các giấy tờ kèm theo cần có những nội dung phải làm rõ thì người thực hiện TGPL cần liên hệ với người được TGPL để làm rõ hoặc trực tiếp xác minh nội dung vụ việc. Do người dân tộc thiểu số có những hạn chế về ngôn ngữ lên người thực hiện TGPL cần đến tận nơi, gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với họ nhàm thu thập thông tin được đầy đủ, chính xác khách quan;


Thứ ba, tra cứu tài liệu: sau khi nghiên cứu hồ sơ, người thực hiện TGPL có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, đối chiếu với các quy định của pháp luật liên quan. Trường hợp vẫn còn có những vấn đề chưa rõ, người thực hiện TGPL tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, bộ phậm chuyên môn, nếu cho rõ báo cáo lãnh đạo cho ý kiến giải quyết. Nhất là các lĩnh vực pháp luật nhậy cảm liên quan đến công tác dân tộc, công tác tôn giáo;


Thứ tư, soạn thảo văn bản trả lời: sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu có liên quan và đối chiếu với các quy định của pháp luật người thực hiện TGPL soạn thảo văn bản trả lời, văn bản phải được thể hiện bản chất của vấn đề nhưng hết sức ngắn gọn, cụ thể dễ hiểu. Nghĩa là chỉ trả lời tư vấn về những nội dung đã rõ, gắn với những tình tiết, sự kiện cụ thể để người yêu cầu TGPL biết rõ rằng nội dung tư vấn là dựa trên kết quả các thông tin mà người yêu cầu TGPL cung cấp.


b) Tư vấn pháp luật tại trụ sở


So với tư vấn pháp luật thông qua TGPL lưu động thì tư vấn pháp luật tại trụ sở không diễn ra không nhiều. Người được TGPL khi có nhu cầu được TGPL họ đến với Trung tâm TGPL và Chi nhánh của Trung tâm đó là những vụ việc thường rất phức tạp. Họ đến với tổ chức thực hiện TGPL trong nỗi bất bình bức xúc với sự việc sẩy ra nên khi khi gặp được cán bộ thực hiện TGPL họ mặc sức xả giận không cần biết họ đang đến một cơ quan nhà nước và yêu cầu được giúp đỡ. Trong đó phải nói đến vụ tranh chấp đất đai tại xã Mường Nhé huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên là một ví dụ. Vụ việc tranh chấp đai đai sẩy ra, hàng chục người dân tộc H’Mông số cách tổ chức TGPL gần 200 km họ đi cả ngày đường để đến tổ chức thực hiện TGPL và trút mọi bực tức lên Trợ giúp viên pháp lý, trong khi đó họ không có một thứ giấy tờ gì để chứng cho họ là đối tượng được TGPL về diện người được TGPL và các giấy tờ liên quan đến vụ việc tranh chấp. Do vậy cán bộ TGPL từ khâu tiếp nhận đơn yêu cầu TGPL đến khi thực hiện TGPL cần có thái độ kiên trì, bình tĩnh. Việc làm đầu tiên chưa phải là các hoạt động TGPL mà là sự thông cảm và chia sẻ với họ. Chỉ khi nào cán bộ TGPL cảm nhận được người được TGPL đã bình tĩnh, trạng thái tâm lý ổn định bình thường thì các hoạt động TGPL mới được bắt đầu, chỉ có như vậy vụ việc mới đảm bảo tính khách quan và chính xác và hiệu quả.


c) Tư vấn pháp luật thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL


Đến đến thời điểm này Điện Biên có 91 Câu lạc bộ TGPL trong tổng số 112 xã phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Các Câu lạc bộ TGPL được thành lập và tổ chức hoạt động theo Luật TGPL và Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Tuy nhiên hoạt động của Câu lạc bộ còn rất nhiều hạn chế, việc tổ chức sinh hoạt chưa được thường xuyên, nội dung sinh hoạt chủ yếu là tuyên truyền pháp luật, ít có vụ việc được tư vấn theo quy định. Nguyên nhân chủ yếu là do Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc tại cơ sở đồng thời năng lực của đa số thành viên Ban chủ nhiệm còn nhiều hạn chế chưa biết cách thức tổ chức sinh hoạt và khi có vụ việc vướng mắc pháp luật sẩy ra rất lúng túng trong quá trình giải quyết. Vì vậy Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm cần tăng cường hướng dẫn sinh hoạt của Câu lạc bộ TGPL. Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm cần thường xuyên cử Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL để phối hợp với Ban chủ nhiệm Câu lạc TGPL thực hiện sinh hoạt và tư vấn pháp luật cho người được TGPL. Cần phát huy tối đa lợi thế thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL là người sống và làm việc tại cơ sở do đó hơn ai hết họ hiểu được ngôn ngữ, phong tục tập quán, nội dung vụ việc cần được tư vấn. Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL chủ yếu định hướng để thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đưa ra lời tư vấn, những vụ việc thực sự phức tạp thì Trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên TGPL mới trực tiếp thực hiện việc tư vấn. Việc làm này giúp Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL quen dần với công việc và tự tin hơn nội dung tư vấn đồng thời tạo lòng tin cho người được TGPL.


d) Tư vấn pháp luật qua điện thoại, thư tín, fax: thực tiễn cho thấy việc tư vấn qua điện thoại, thư tín, fax không nhiều do người được TGPL là người dân tộc thiểu số nên họ chưa quen thậm trí có phương tiện họ chưa sử dụng bao giờ nên tâm lý họ ngại đề nghị được TGPL thông qua điện thoại, thư tín, fax. Tuy nhiên cũng có trường hợp người yêu cầu TGPL thông qua điện thoại, thư tín để yêu cầu TGPL. Những trường hợp này khi thực hiện TGPL phải kiên trì nghe, đọc thật kỹ để xác định nội dung vụ việc và yêu cầu của người được TGPL, nhất là quá trình thu thập thông tin, thu thập chứng cứ. Trung tâm TGPL hoặc Chi nhánh của Trung tâm cần cử người có kinh nghiệm có hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số để thực hiện TGPL và nếu có người thực hiện TGPL là người cùng dân tộc với người được TGPL thì càng tốt. Lời nói chữ viết cần ngắn gọn, đơn giản, cụ thể, dễ hiểu. Trường hợp người thực hiện TGPL đã tư vấn họ vẫn không hiểu thì đề nghị họ đến trụ sở làm việc để được tư vấn.


2. Kỹ năng tham gia tố tụng, tham gia bào chữa


Tính đến hết năm 2009 Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư là Cộng tác viên TGPL đã thực hiện TGPL dưới hình thức bào chữa là: 724 vụ chiếm 8,22% tổng số vụ việc được TGPL. Số lượng vụ việc được thực hiện dưới hình thức bào chữa không nhiều, để vụ việc tham gia tố tụng có chất lượng, người thực hiện TGPL phải am hiểu pháp luật về nội dung (Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân Sự...) nắm vững pháp luật về hình thức (Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự..) và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Khi tham gia tố tụng nói chung và thực hiện bào chữa nói riêng, người thực hiện TGPL phải sử dụng linh hoạt nhiều kỹ năng để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ.


a) Trong giai đoạn điều tra


Người dân tộc thiểu số thường hay tự ty, ít am hiểu pháp luật do vậy khi bị điều tra họ rất no sợ, tâm lý không ổn định. Nhiều người trong số họ chưa biết mình có quyền được đề nghị người bào chữa, thậm trí nhiều trường hợp đã bị cơ quan công an điều tra nên cứ thấy cán bộ đến làm việc là no sợ. Không cần biết cán bộ đó là ai, làm gì. Đa số họ chưa quan với sự tham gia của người thực hiện TGPL, không hiểu “người bào chữa” là gì? người bào chữa giúp đỡ họ về pháp luật hay buộc tội họ?..và lấy tiền đâu để trả cho người bào chữa. Trong quá trình khai báo trước cơ quan Điều tra hoặc no sợ hoặc không khai báo hoặc khai báo không đúng với nội dung sự việc. Do vậy người thực hiện TGPL (Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư là cộng tác viên) sớm tham gia vào giai đoạn điều tra để giúp đỡ người được TGPL về mặt pháp lý và sớm tiếp cận nắm rõ về vụ án có ý nghĩa rất quan trọng. Việc đầu tiên người thực hiện TGPL phải làm là giải thích cho họ quyền được bào chữa và họ không phải trả tiền. Bào chữa là giúp đỡ họ về pháp lý, giúp đỡ họ làm rõ nội dung sự việc, làm giảm mức án....đồng thời nhanh chóng tiếp cận cơ quan điều tra và Điều tra viên (ĐTV) thụ lý điều tra vụ án để đề nghị cấp giấy chứng nhận bào chữa. Khi được cấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng người thực hện TGPL đề nghị ĐTV hợp tác làm việc trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung và thu thập các chứng cứ khác. ĐTV thường ngại khi có người thực hiện TGPL tham gia vào quá trình điều tra vì gây mất thời gian và không tự do tác nghiệp khi có người khác cùng tham gia các hoạt động của tố tụng. Do vậy tâm lý ĐTV thường lé tránh người thực hện TGPL với lý do sợ người thực hiện TGPL làm lộ bí mật, bận công việc khác... người htực hiện TGPL phải kiên trì và có cách ứng xử phù hợp, đưa ra các văn bản pháp luật đúng thời điểm, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền để đề nghị ĐTV xem xét giải quyết.


Đối với người được TGPL đang tại ngoại khi tiếp xúc với người được TGPL người thực hiện TGPL cần tạo ra sự tin tưởng cho người được TGPL, giải thích cho họ biết rõ quyền và nghĩa vụ của bị can, các công việc cần phải thực hiện. Thống nhất với người được TGPL về cách thức làm việc để phối hợp với nhau có hiệu quả. Giải thích cho họ về sự cần thiết phải có mặt của người bào chữa vào quá trình hỏi cung, về quyền yêu cầu được đọc, nghe lại toàn bộ bản cung. Người thực hiện TGPL cần trao đổi và chỉ ra thực trạng pháp lý, những vấn đề mà họ đang phải đối mặt như họ bị khởi tố về tội gì, chứng cứ buộc tội, kế hoạch cần thu thập chứng cứ để chứng minh là mình vô tội, gỡ tội, giảm nhẹ tội. Tình tiết nào cung cấp trước, tình tiết nào cung cấp sau và hướng dẫn người được TGPL và thân nhân của họ cung cấp tài liệu chứng cứ để được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 46 BLHS.


Trường hợp người được TGPL đang bị tạm giữ, tạm giam, người thực hiện TGPL cần gặp gỡ thân nhân của họ để thu thập thông tin về nguyên nhân điều kiện phạm tội, hoàn cảnh gia đình. Đây là thông tin quan trọng giúp người thực hiện TGPL khi tiếp xúc với người được TGPL để họ tự tin hơn, gần gũi hơn vì người TGPL đã gặp được gia đình họ. Đồng thời cũng cần giải thích rõ cho người được TGPL biết họ quyền khai những gì họ biết, muốn nói thì được nói, không muốn nói thì có quyền không nói. Nếu khai báo thành khẩn thì được coi là tình tiết giảm nhẹ. Nếu chưa nói ra thì cũng không bị coi là tình tiết tăng nặng. Những vấn đề này đã được quy định rất cụ thể trong pháp luật nhưng không mấy người biết đến đặc biệt là với người dân tộc thiểu số thậm trí đa số trong số họ còn không biết chữ lấy đâu mà am hiểu pháp luật. Do vậy người thực hiện TGPL phải giải thích cho họ nắm vững các quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Hết sức tránh trường hợp có người thực hiện TGPL bào chữa mà để bị can, bị cáo không khai vì khai cái gì cũng sợ hoặc khai không đúng với nội dung sự việc có thể dẫn đến điều tra, truy tố xét xử oan, sai.


Một số vụ việc Trợ giúp viên pháp lý tham gia bào chữa cho người được TGPL gần đây cho thấy do có mối quan hệ phối hợp tốt giữa tổ chức thực hiện TGPL và cơ quan Điều tra; giữa Trợ giúp viên pháp lý và các Điều tra viên lên không để vụ việc oan sai nào sẩy ra. Nhiều vụ án do làm tốt công tác tư tưởng và quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ đầy đủ khách quan như vụ: Quàng Văn Bính – phạm tội cố ý gây thương tích; Lò Văn Dương – phạm tội trộm cắp tài sản; Lò Văn Tún – phạm tội trộm cắp tài sản; Lò Văn Dũng – phạm tội trộm cắp tài sản...quá trình điều tra các bị can không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Trợ giúp viên pháp lý đã phân tích các chứng cứ thu thập được và căn cứ vào quy định của pháp luật để giải thích cho người được TGPL và chỉ ra cho họ thấy rằng nếu họ thật thà khai báo thì sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, cuối cùng người được TGPL nhận thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do lúc đầu không hiểu biết pháp luật lên không thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, nhưng được Trợ giúp viên giải thích đã nhận ra hành vi sai trái của mình và đã được cơ quan Điều tra đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội t6hành khẩn khai báo.


Tuy nhiên trong quá trình điều tra do nhiều công việc thậm trí có Điều tra viên làm việc trong tình trạng quá tải nên tâm lý các Điều tra viên muốn hoàn thành các cuộc hỏi cung sớm để viết kết luận điều tra nên trong quá trình hỏi thường nói lớn, tâm lý cáu gắt đặc biệt có trường hợp dọa dẫm người bị tạm giữ, tạm giam nếu không khai thì tội se tăng nặng hoặc sẽ bị người tạm giữ, tạm giam khác cùng buồng giam đối xử phân biệt, hoặc bị cắt giảm chế độ ăn, uống hoặc bị cùn chân tay vì không thành khẩn...tất cả những lời dọa nạt gây nên tâm lý no sợ cho người bị tam giữ, tạm giam và điều này ảnh hưởng tới lời khai của người được TGPL. Do vậy trong giai đoạn điều tra người thực hiện TGPL phải khẩn trương tiếp cận với người được TGPL để giúp đỡ họ về tinh thần và pháp luật.


b) Trong giai đoạn truy tố


Người thực hiện TGPL cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, tập trung vào kết luận điều tra, các bản cung... để tìm mâu thuẫn, tìm các tình tiết giảm nhẹ. Lưu ý cũng như trong giai đoạn điều tra, người người dân tộc thiểu số có rất nhiều hạn chế nhận thức về pháp luật do vậy tất cả các tài liệu có bút tích của người người được TGPL, người thực hiện TGPL phải xem xét đánh giá kỹ tính đúng đắn, sát thực của chứng cứ nhằm hạn chế tối đa những sai không đáng có của người dân tộc thiểu số. Nhiều trường hợp cho thấy người bị tạm giữ, tạm giam là người dân tộc thiểu số trong lý lịch bị can ghi trình độ văn hóa không biết chữ, nhưng lại có chữ ký, chữ viết trong các bản cung và thậm trí có cả bản tường trình. Trường hợp phát hiện thấy vi phạm tố tụng hoặc vi phạm khác cần đề nghị Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nếu người được TGPL đang bị tạm giam có đầy đủ các điều kiện và có văn cứ được thay đổi biện pháp ngăn chặn thì hướng dẫn người được TGPL làm đơn đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn.


c) Trong giai đoạn xét xử


Là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất vì ở đó diễn ra cuộc điều tra công khai với sự tham gia của nhiều cơ quan và nhiều người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Tại phiên tòa một người kiến thức pháp luật, có bản lĩnh cũng có tâm trạng lo sợ chứ chưa nói đến người dân tộc thiểu số họ có những hạn chế nhất định. Do vậy sự có mặt của người thực hiện TGPL tại phiên tòa là rất quan trọng đối với người được TGPL.


* Tại phiên tòa sơ thẩm: Người thực hiện TGPL phải bình tĩnh, tự tin và chủ động, tranh thủ mọi thời gian để gặp gỡ, trao đổi và lưu ý người được TGPL những vấn đề cần thiết. Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, người thực hiện TGPL phải ghi chép những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Nếu có người vắng mặt mà ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người được TGPL thì chuẩn bị sẵn ý kiến để phát biểu. Lưu ý có rất nhiều phiên tòa xét xử không có sự tham gia đầy đủ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch mà lẽ ra phải có mặt của họ theo quy định của pháp luật để bảo tính khách quan và đặc biệt các trường hợp có lợi cho người được TGPL. Trong đó phải kể đến các vụ trộm cắp tài sản: Quàng Văn Hoa, Đèo Văn Thuân, Quàng Văn Minh, Quàng Văn Thơm, Lò Văn Tiến, Điêu Chính Ích...khi xét xử các vụ án trộm cắp tài sản, thường có rất nhiều người làm chứng phải tham gia phiên tòa nhưng họ lại vắng mặt điều này cũng dễ hiểu , bởi vì người dân tộc thiểu số thường cư trú ở miền rừng núi, vùng sâu, vùng xa lên việc đi lại rất khó khăn, hơn nữa ít hiểu biết pháp luật nên họ rất ngại tham gia tố tụng dù với tư cách gì. Do vậy người thực hiện TGPL cần nắm vững các quy định của pháp luật quy định về sự có mặt của những người nêu trên và đưa ra ý kiến đúng lúc để Hội đồng xét xử xem xét.


Phần xét hỏi, người thực hiện TGPL cần có câu hỏi đóng để khẳng định hay phủ định lại một vấn đề, điều này là cần thiết, bởi lẽ do nhận thức pháp luật hạn chế nên nhiều khi người dân tộc thiểu số trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử nhưng chưa chắc họ đã hiểu câu hỏi. Nội dung các câu hỏi thật ngắn gọn và ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu theo ngôn ngữ thường ngày của họ, đi sâu vào các câu hỏi về nhận thức pháp luật về hành vi phạm tội? động cơ, mục đích mục tội? Hoàn cảnh điều kiện phạm tội? về nhân thân...những câu hỏi này thường là câu hỏi mở có liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Đa số các vụ án đã xét xử cho thấy người phạm tội là người dân tộc thiểu số, phạm tội mà không biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự. Động cơ mực đích phạm tội trong nhiều trường hợp không có tính vụ lợi mà chỉ để chữa bệnh cho người và gia súc như vụ Lỳ Gò Nu, vụ Lỳ Nủ Sứ – phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Người phạm tội chỉ mua ma túy để chữa bệnh cho người và cho gia súc và không nhận thức được hành vi của họ đã vi phạm pháp luật. Hoàn cảnh điều kiện phạm tội thường rất khó khăn, túy quẫn, phạm tội trong trường hợp chỉ để tồn tại cuộc sống bình thường như các vụ trộm cắp trâu, bò, dê, ngựa do thả dông của Đèo Văn Thuân, Quàng Văn Thơm; vụ trộm trâu của Lò Văn Trái, Lò văn Nghiên, Lường Văn Diên...


Phần tranh luận, nếu bào chữa theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì người thực hiện TGPL cần đánh giá tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của người được TGPL; phân tích đánh giá đi sâu vào nhận thức, động cơ mục đích phạm tội, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội và nhân thân của người dân tộc thiểu số. Phần dân sự người thực hiện TGPL đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện kinh tế, thu nhập cuộc sống của gia đình và người được TGPL, số nhân khẩu để miễn áp dụng hình phạt bổ sung.


Tranh luận làm rõ cùng Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa trong các trường hợp người dân tộc thiểu số không biết chữ, không biết tiếng phổ thông mà trong hồ sơ vụ án có chữ ký của người được TGPL với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Thậm chí nhiều trường hợp người được TGPL không biết chữ nhưng vẫn có bản tường trình, bản tự khai tự viết? (vụ Lầu A Lồng – Mua bán trái phép chất ma túy).


Nếu bào chữa theo hướng vô tội cần phân tích đánh giá chứng cứ, trích dẫn quy định của pháp luật xác định người được TGPL không phải chịu trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị trả tự do ngay cho người được TGPL.


Vấn đề cần phải làm cuối cùng trong các vụ án xét xử sơ thẩm là việc kháng cáo. Sẽ là việc rất đơn giản đối với bị cáo biết chữ, có hiểu biết pháp luật, họ có đủ khả năng để nhận thức bản án của Tòa án tuyên như vậy là đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự chưa, đã cân nhắc tính chất mức độ hành phạm tội chưa, đã xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ hay chưa. Còn đối với người dân tộc thiểu họ ít hiểu biết pháp luật thì làm sao có thể nhận thức bản án tuyên đúng quy định của pháp luật? căn cứ vào đâu để quyết định có kháng cáo hay không kháng cáo? trình tự thủ tục kháng cáo thế nào? ai sẽ là người giúp họ viết đơn kháng cáo?...thậm trí án phí phải nộp ở đâu? Bao nhiêu...như vụ Vì Văn Thanh, vụ Hoàng Văn Phương.... các bị cáo cho rằng bản án Tòa án tuyên là nặng và có nhu cầu kháng cáo nhưng không hiểu được các quy định của pháp luật về kháng cáo lên vụ án không được xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đấy là chưa nói đến tâm lý chung của người dân tộc thiểu số là đã có tội rồi rất ngại “thắc mắc cái sai của mình” để Tòa án lại phải xét xử. Vì vậy người thực hiện TGPL cần kịp thời tiếp xúc với bị cáo đỡ giúp đỡ họ trong các vụ án xét xử theo trình tự phúc thẩm.


* Tại phiên tòa phúc thẩm: Người thực hiện TGPL cần nghiên cứu kỹ bản án đánh gía nhận định của bản án đã đầy đủ chưa? Phần nào còn thiếu không có lợi cho người được TGPL. Phán quyết của Tòa án đã nghiêm minh chưa? Đã cân nhắc đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chưa? Trên cơ sở đó cần trao đổi với người được TGPL để cân nhắc có kháng cáo không? Nếu kháng cáo thì kháng cáo nội dung gì?, người được TGPL có tiếp tục đề nghị được TGPL không? Nếu do nhận thức pháp luật người được TGPL cho rằng bản án đã tuyên là quá nặng thì người thực hiện TGPL cần trao đổi, cung cấp các thông tin pháp luật để họ rõ hơn và quyết định lựa chọn cuối cùng có kháng cáo hay không?


3. Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng


Khoản 1 Điều 30 Luật TGPL quy định: “Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Đồng thời Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của người đại diện: “Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, người đại diện có trách nhiệm sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý”
( Khoản 2 Điều 40).


Khi có tranh chấp vướng mắc pháp luật sấy ra, người dân tộc thiểu số thường tự giải quyết thông qua Hương ước, Quy ước dưới sự chủ trì thường của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trong công đồng dân cư hoặc chính quyền thôn, bản. Câu lạc bộ TGPL, tổ hòa giải ở thôn, bản cũng là những địa chỉ tin cậy của bà con. Tuy nhiên không phải mọi vướng mắc của người dân đã được giải quyết thông qua các tổ chức này. Để bảo vệ quyền lợi của mình, khi có vụ việc không tự giải quyết được ở cơ sở người dân tộc thiểu số đã đề nghị Trung tâm TGPL và Chi nhánh của Trung tâm giúp đỡ. Tuy nhiên số vụ việc được TGPL dưới hình thức đại diện ngoài tố tụng trong thời gian qua không nhiều (34/8.806) chiếm tỷ lệ 0,04% vụ việc đã được TGPL nhưng đó là những vụ việc phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp ở nhiều địa phương cần có thời gian và kiến thức pháp luật mới giải quyết được. Vì vậy người thực hiện TGPL cần sắp xếp thời gian đến nơi họ cư trú để được nghe họ trình bày về nội dung vụ việc và lựa chọn người thực hiện TGPL là người cùng dân tộc nếu không có người thực hiện TGPL là người cùng dân tộc thì cử chuyên viên, cộng tác viên là người cùng dân tộc với người được TGPL, điều này sẽ thuận lợi cho tâm lý tự tin của người được TGPL và thuận lợi trong giao tiếp cũng như thói quen, phong tục tập quán của họ. Sau khi nghe người được TGPL trình bày người thực hiện TGPL cần khéo léo gợi mở để họ kể lại toàn bộ nội dung vụ việc? ai biết việc này? Việc này sẩy ra bao giờ? nguồn gốc sự việc? nguyện vọng của người đề nghị được TGPL là gì? và hướng dẫn họ cụ thể, tỷ mỷ cách cung cấp thông tin tài liệu. Việc khó là người dân tộc thiểu số thường không lưu trữ tài liệu do vậy người thực hiện TGPL thường phải nghĩ tới cách lấy tài liệu thông tin làm chứng cứ thông qua già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và những người cao tuổi, người chứng kiến và những người hàng xóm lân cận. Đây là những người thường biết về nội dung vụ việc.


Quá trình đại diện cho người dân tộc thiểu số để giải quyết vụ việc người thực hiện TGPL phải thường xuyên trao đổi kết quả đã giải quyết với người được TGPL để thống nhất nội dung công việc tiếp theo. Tránh tình trạng người thực hiện TGPL giải quyết công việc đúng pháp luật và đã có kết quả nhưng không kịp thời thông tin cho người được TGPL dễ dẫn đến họ tự ái, thậm trí có kết quả không đúng với phong tục tập quán làm vụ việc càng trở lên phức tạp thì đó chưa phải là cách giải quyết tốt nhất.


4. Kỹ năng tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn, bị đơn


Người thực hiện TGPL cần phải xác định xem yêu cầu của người được TGPL là quan hệ pháp luật nào, tranh chấp dân sự có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự hay không? có nên khởi kiện hay không? nếu khởi kiện thì thủ tục như thế nào? gặp gỡ, trao đổi với người được TGPL về nội dung vụ tranh chấp nhằm xác định rõ nội dung yêu cầu của người được TGPL là yêu cầu gì, thuộc loại quan hệ pháp luật nào, trên cơ sở đó để tư vấn, định hướng và đưa ra phương án giải quyết phù hợp và luôn luôn tìm các điều kiện cần thiết để đạt được sự thảo thuận của các bên đương sự thông qua việc hòa giải để kết thúc vụ việc nhằm tiết kiệm thời gian, kinh phí và giữ gìn được tình cảm giữa các bên đương sự. Việc hòa giải phải căn cứ vào cácc quy định của pháp luật và luật tục. Người thực hiện TGPL cần phân tích những lợi thế hoặc bất lợi cho người được TGPL nếu thương lượng được với đối phương; những bất lợi cho người được TGPL trong trường hợp khởi kiện vụ án tại Toà án; những lợi ích và khả năng có thể đạt được, nếu người được TGPL khởi kiện.


Nếu vụ việc hòa giải không thành thì người thực hiện TGPL chuẩn bị hồ sơ để khởi kiện tại Tòa án. Do người dân tộc thiểu số có những hạn chế nhất định về mặt pháp luật lên người thực hiện TGPL cần chủ động và hướng dẫn người được TGPL chuẩn bị hồ sơ khởi kiện đầy đủ gồm: đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết vụ án dân sự; các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn hoặc các tài liệu giải trình trực tiếp làm sáng tỏ các yêu cầu của nguyên đơn; các tài liệu về tư cách chủ thể (lý lịch) của nguyên đơn: chứng minh thư, sổ hộ tịch, hộ chiếu, giấy khai sinh của người được trợ giúp pháp lý; các tài liệu, chứng cứ kèm theo (tài liệu của bị đơn, biên nhận của người làm chứng, các bên có liên quan...) có ý nghĩa làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án; các văn bản pháp luật có liên quan là cơ sở pháp lý cho yêu cầu của nguyên đơn.


Các chứng cứ mà người được TGPL có thể tự thu thập gồm: Các tài liệu mà người được TGPL đang giữ và quản lý như bản hợp đồng, các bản di chúc, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh, biên bản bàn giao tài sản, các giấy tờ về quyền sở hữu nhà, các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, về quyền sử dụng đất, giấy biên nhận do ngư¬ời vay nợ gửi cho đ¬ương sự giữ, giấy xin xác nhận hộ khẩu th¬ường trú, giấy xin xác nhận hoặc chứng nhận về một sự kiện pháp lý nào đó, các loại biên bản làm việc hoặc biên bản trao đổi với cơ quan, tổ chức, chính quyền v.v...trong đó lưu ý các tập quán nếu được cộng đồng nơi có tập quán thừa nhận cũng được coi là chứng cứ. Đây thường là chứng cứ quan trọng trong vụ việc dân sự đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, bởi vì các vụ việc dân sự sẩy ra đối với phần lớn người dân tộc thiểu số nào, vùng nào trong cộng đồng của họ cũng có những tập quán riêng và được mọi người công nhận. Trường hợp người thực hiện TGPL đã hướng dẫn người được TGPL thu thập chứng cứ nhưng họ không thể tự mình thu thập được thì người thực hiện TGPL hướng dẫn họ yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.


Phần thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ được xem là phần khó khăn nhất đối với người dân tộc thiểu số bời vì họ không hiểu chứng cứ là gì? Các loại chứng cứ? nguồn chứng cứ? cách bảo quản thu giữ chứng cứ và giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền...nên dễ ảnh hưởng tới kết quả giải quyết sự việc, vì vậy khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn, bị đơn người thực hiện TGPL cần thu thập chứng cứ đồng thời hướng dẫn người được TGPL cách thu thập chứng cứ, những chứng cứ quan trọng, chứng cứ có ý nghĩa mấu chốt để giải quyết phân định cái đúng, sai trong mỗi vụ việc.


5. Kỹ năng hòa giải


Do nhận thức và hiểu biêt pháp luật của đa số đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế nên các vụ việc tranh chấp sẩy ra trong cộng đồng dân cư khá nhiều, kéo dài dai dẳng trong đó phải kể đến các vụ tranh chấp về đất đai, đòi lại đất cha, ông; tranh chấp tài sản sau ly hôn và trộm cắp vặt sẩy là những tranh chấp chủ yếu. Đến nay các tổ chức TGPL nhà nước tỉnh Điện Biên đã thực hiện hòa giải trên 100 vụ việc.


Để tổ chức thực hiện hòa giải có hiệu quả, người thực hiện hòa giải cần có những kiến thức cơ bản về Luật tục (người Thái gọi là Hịt khỏng) đều có điểm chung là một mặt nó mang những yếu tố của luật pháp (quy định các hành vi phạm tội, các loại và mức độ tội phạm,…), nhưng mặt khác, Luật tục mang tính chất của lệ tục, phong tục (những quy ước, những điều răn dạy, những điều khuyên nhủ mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cho mỗi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi của con người. Nội dung Luật tục của các dân tộc bao gồm các quy định về quan hệ cộng đồng, quan hệ của người đứng đầu buôn làng với dân, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng bản, giữa cha mẹ với con cái, về sở hữu tài sản, sở hữu đất đai, nương rẫy, nguồn nước, giữ gìn trật tự công cộng, giữ bình yên, hoà thuận trong buôn làng,…Luật tục là sản phẩm xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội của mỗi dân tộc, phụ thuộc nhiều vào trình độ, ý chí chủ quan của các thành viên sống trong cộng đồng đó, trong đó có người đứng đầu (chủ làng, chủ buôn, hội đồng già làng), do đó vừa thể hiện những mặt tích cực những cũng tồn tại những mặt tiêu cực đối với đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào các dân tộc.


Quá trình thụ lý hòa giải người thực hiện TGPL cần xây dựng Kế hoạch chi tiết nội dung xác minh để làm rõ vướng mắc các bên đương sự không thỏa thuận được? vướng mắc về pháp luật hay vướng về Luật tục? mỗi vụ việc khi giải quyết đều bảo đảm hai yêu, yêu cầu về Pháp luật và yêu cầu về Luật tục. Lên kế hoạch xác minh cụ thể bên nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vụ việc sẩy ra ở địa bàn nào? Dân tộc gì? phong tục tập quán được thừa nhận? những hủ tục lạc hậu của dân tộc đó? vụ việc đã được thôn, bản hòa giải chưa? ý kiến của ban hòa giải xã? vướng mắc và nguyên nhân của vướng mắc? Sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ, người thực hiện TGPL (Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư là cộng tác viên TGPL) đối chiếu với các văn bản pháp luật để xác định phần đúng thuộc về nguyên đơn hay bị đơn đồng thời trên cơ sở phong tập tập quán để cân nhắc nếu hòa giải theo quy định của pháp luật thì những vấn đề gì sẽ nảy sinh? chuẩn bị ý kiến giải thích hướng dẫn cho vướng mắc đó, gặp gỡ bên có chứng cứ theo quy định của pháp luật (có thể bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn) để làm công tác tư tưởng về phần nhượng bộ (nếu cần thiết) một số quyền lợi cho phía bên kia và lựa đưa ra ý kiến để thăm dò. Trường hợp bên có nhiều lợi thế về Luật tục không đồng ý với hướng giải quyết do người thực hiện TGPL đưa ra thì người thực hiện TGPL kiên trì giải thích cho họ về các quy định của pháp luật quy định về nội dung họ tranh chấp và nói đến hậu quả khi họ thua kiện; tìm gặp gỡ và tác động đến những người có ảnh hưởng đến bên đang ở thế yếu lý (những người có uy tín) để thống nhất với họ về những tác động .


Một trong những yếu tố để đảm bảo sự thành công của buổi hòa giải là thành phần hòa giải. Trong đó người thực hiện TGPL cần lưu ý đến các thành phần đại diện cho chính quyền thôn bản để bảo đảm tính pháp lý và những công việc phải làm sau khi kết thúc buổi hòa giải. Đồng thời trong thành phần buổi hòa giải đặc biệt lưu ý các thành phần người già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ , người có uy tín những người này khi tổ chức hòa giải người thực hiện TGPL cần mời họ để tranh thủ ý kiến của họ và tạo lòng tin cho các bên hòa giải; tuy nhiên để phát huy nhóm người này khi mời họ tham gia hòa giải người thực hiện TGPL cần cân nhắc từng vụ việc để xem xét ảnh hưởng của họ và không lên mời nhiều các thành phần này đối với bên đã có những lợi thế về mặt pháp luật.


6. Kỹ năng TGPL bằng hình thức giúp đỡ thủ tục hành chính, khiếu nại


Lĩnh vực TGPL dưới hình thức giúp đỡ thủ tục hành chính, khiếu nại thời gian qua không nhiều (553/8.806) chiếm 0,63% tổng số vụ việc đã được TGPL. Các vụ án hành chính do Tòa án nhân dân các cấp xét xử trong đó người dân tộc thiểu số tham gia phiên tòa với tư cách ( nguyên đơn hoặc bị đơn) là người bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian qua sẩy ra không nhiều Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó phải nói đến người dân tộc thiểu số không biết được mình đã bị cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp. Do vậy người thực hiện TGPL nắm được thông tin vụ việc, hiểu được tâm tư tình cảm, nhu cầu của người dân tộc thiểu số và tư vấn khiếu kiện cho người được TGPL là công việc quan trọng. Việc người dân tộc thiểu số nhận thức được hành vi của mình, của người khác có vi phạm pháp luật hay không là việc khó và việc đề nghị cơ quan tổ chức cá nhân giúp đỡ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình còn khó hơn. Các vụ việc hành chính người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân tộc là các cá nhân cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong khi đó chính quyền gần với người dân tộc thiểu số nhất là UBND cấp xã tại đó không có các văn phòng Luật sư, Trung tâm TGPL và Chi nhánh của Trung tâm do vậy người dân tộc thiểu số không biết phản ánh vụ việc của họ tới đâu để được giải quyết. Quá trình gặp gỡ, tiếp xúc và tìm hiểu nội dung vụ việc người thực hiện TGPL giải thích cho người được TGPL biết về quyền của họ về thực hiện khiếu nại, tố cáo; giúp người được TGPL viết đơn khiếu nại; cùng với người khiếu nại liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để thu thập tài liệu, bằng chứng; đưa ra bằng chứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại; tham gia cùng người khiếu nại gặp gỡ, đối thoại với người giải quyết khiếu nại, người bị khiếu nại và những người khác liên quan; tham gia các giai đoạn khác trong quá trình giải quyết khiếu nại; giúp người khiếu nại thực hiện các quyền của người khiếu nại theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đây là những giải thích quan trọng giúp người được TGPL tự tin hơn trong quá trình giải quyết vụ việc.


Trong thời gian gần đây, nhằm giúp đỡ người được TGPL là người dân tộc thiểu số thực hiện quyền khiếu nại của mình đến các cơ quan có thẩm quyền để xem xét giải quyết về hành vi thực hiện công vụ của một số cán bộ công chức phòng Nông nghiệp, Ban quản lý Dự án Rừng phòng hộ thuộc huyện Mường Nhé về việc thực hiện chính sách hỗ trợ khoanh nuôi và bảo vệ rừng theo Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại bản Vàng Lếch xã Chà Cang. Hoặc vụ việc hỗ trợ tiền ăn cho con hộ nghèo học lớp mẫu giáo và hỗ trợ tiền ăn, dụng cụ học tập cho con hộ nghèo học trường Tiểu học theo Quyết định 112/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình 135 giai đoạn II của Ban giám hiệu nhà trường PTCS xã Chà Cang huyện Mường Chà. Hay việc rà soát lại danh sách hộ nghèo thuộc xã Chung Chải huyện Mường Nhé…thông qua các kỹ năng TGPL bằng hình thức giúp đỡ thủ tục hành chính, khiếu nại các đối tượng được TGPL là người dân tộc thiểu số đã được bảo vệ quyền lợi theo quy định của pháp luật./.

 

Thùy Dương


 

Người được TGPL

Thủ tục TGPL

Hỏi đáp pháp luật

Gửi tin bài

Quảng cáo phai 3

Quảng cáo phải 1

Quảng cáo phải 2